+ Reply to Thread
Trang 1 / 2 1 2 Cuối cùngCuối cùng
Hiển thị các kết quả từ 1 đến 10 của tổng cộng 16

Thread: Các Nền Văn Minh Trên Thế Giới

Hybrid View

  1. #1
    Ngày tham gia
    Apr 2008
    Số Bài Viết
    2,505
    Like
    364
    Thanked 492 Times in 278 Posts

    Các Nền Văn Minh Trên Thế Giới

    Bà con rảnh đọc cho biết....đây là mục lục....từ từ mền sẽ update hết

    1.Nền Văn Minh Lưỡng Hà
    2.Lịch Sử Chiêm Tinh Học Ai Cập
    3.Lịch sử Chiêm Tinh Học Ai Cập (P2)
    4.Đế Quốc Ai Cập
    5.Đế Quốc Ai Cập (P2)
    6.Bí ẩn Kim Tự Tháp Mặt Trời
    7.Người lùn Munayi
    8.Đế Quốc Ai Cập (P3)
    9.La Mã cổ đại
    10.Thành phố truyền thuyết Atlantis
    11.Vì sao ĐQ La Mã bị tiêu diệt (P1)
    12.Vì sao ĐQ La Mã bị tiêu diệt (P2)
    13.Vì sao ĐQ La Mã bị tiêu diệt (P3)
    14.Vương quốc huyền thoại Etruscan

    15.Hệ thống dẫn nước thời La Mã cổ đại
    16.Chữ viết của người Maya
    17.Truyền thuyết về thành Rome
    18.Tục giết người hiến tế của bộ lạc Aztec và Maya
    19.Đế quốc Cival
    20.Giải mã Kim Tự Tháp mặt trời
    21.Nguyên nhân sụp đổ của đế quốc Maya
    22.Thành cổ Caral
    23.Nền văn minh Tambora ở Indonesia
    24.Văn minh Maya



  2. #2
    Ngày tham gia
    Apr 2008
    Số Bài Viết
    2,505
    Like
    364
    Thanked 492 Times in 278 Posts

    Mặc định Re: Các Nền Văn Minh Trên Thế Giới

    NỀN VĂN MINH LƯỠNG HÀ


    Lưỡng Hà nằm giữa hai con sông Tigris và Euphrates là một trong những vùng đất phì nhiêu ở Tây Á - nơi mà người Hy Lạp cổ đại gọi là Mesopotamia, xuất hiện nhiều quốc gia bao gồm cả Babylon, Assyria, Phenicia và Palestine - hiện nay đang có nhiều tranh chấp với nước láng giềng Do Thái về lãnh thổ - có một nền văn minh hội tụ và tổng hợp của nhiều nền văn hóa tác động lẫn nhau. Nói chung lại đây là nền văn minh Tây Á đã đóng góp không nhỏ vào kho tàng văn hóa của nhân loại.

    Lưỡng Hà là một dải đất phì nhiều, mầu mỡ thuận lợi cho việc canh tác, như trồng các loại hoa quả như trồng nho, hoặc đại mạch hay olive v.v.. Ngoài ra người vùng Lưỡng Hà lúc bấy giờ còn chú trọng về chăn nuôi gia súc cũng như phát triển cả nghề đánh cá, đem lại một nguồn lợi thiên nhiên không nhỏ cho quốc gia này.

    Đặc biệt Lưỡng Hà có được khí hậu nóng ẩm hạp với việc canh tác, sản xuất được các thực vật có thể nói là đa dạng, lại hàng năm vào tháng Năm hàng năm có nước lũ của hai dòng sông đổ về phù sa mầu mỡ đổ vào vùng đồng bằng giúp cho hoa màu phong phú. Các cư dân nhiều địa phương khác hội tụ về đây càng ngày càng nhiều, và cũng

    chính vì vậy mà sinh ra nhiều tranh chấp về quyền lợi, tạo ra các mối chia rẽ khiến Lưỡng Hà khó lòng thống nhất được.

    Nền văn minh cổ đại xuất hiện trước nhất ở lưu vực Lưỡng Hà từ người Sumeria từ vùng núi phương Đông di cư đến vào thiên niên kỷ thứ lV Tr.CN.

    Tại vùng Nam Lưỡng Hà bắt đầu vào đầu thiên niên kỷ thứ III Tr. CN. mọc lên những thành thị xuất hiện tại vùng đồng bằng, kết hợp lại với các vùng đất phù nhiêu chung quanh lập thành các quốc gia đầu tiên tại ở đây.Người giữ chức vụ tối cao của các bang đó lúc bây giờ gọi là Patesia. Quốc gia này cai trị bởi các Hội đồng bô lão, Hội Đồng Nhân Dân,coi như là Lưỡng viện. Các Hội Đồng này bầu ra các nhà lãnh đạo, các viên chức hành chánh để điều hành guồng máy quốc gia. Thống nhất được vùng Lưỡng Hà này do từ thành bang Lagate vào thế kỷ thứ XXV Tr. CN., nhưng sau đó thì quyền bá chủ của Sumeria lại lọt vào tay của thành bang khác : đó là thành bang Uruk.

    Dần dà trung tâm kinh tế Lưỡng Hà không còn ở miền Nam Lưỡng Hà nữa do vấn đề địa lý phải đưa lên miền Bắc nơi lưu vực có hai dòng sông gần nhau nhất mà thành phố Akkad - nơi tiếp các sự di chuyển đường thủy được xem là thuận lợi cho việc chuyển vận mà Nam Lưỡng Hà không có điều kiện như vậy.

    Thành phố được xem là lớn nhất của miền Bắc Lưỡng Hà là Akkad, gần với Baghdad ngày nay, trung tâm của các con đường buôn bán vùng Sumeria, Iran, Tiểu Á, Capcase, Địa Trung Hải... Đến năm 2300 Tr. CN Lưỡng Hà thống nhất nhờ thành phố lớn Akkad bắt đầu phát triển được, từ đó đất nước trở nên giàu mạnh, nhưng thực sự phồn vinh là dưới triều đại Naramine vào những năm từ 2270 đến 2254 Tr. CN. Tuy nhiên, sự thống nhất và phồn vinh này không được bao lâu thì Lưỡng Hà bị chia cắt và sự thịnh vượng không còn tồn tại nữa. Và mải đến năm 1950 Tr.CN. Lưỡng Hà lại bị thuộc về Semitic.

    Dù Lưỡng Hà trải qua bao nhiêu thời kỳ thăng trầm nền kinh tế vẫn giữ lấy nông nghiệp làm chính. Các công trình thủy lợi được xây dựng lên để dẫn thủy nhập điền, về ngũ cốc như các giống lúa lúa mì, lúa mạch, các loại đậu loại vừng v.v...cũng như chà là, lê, táo...là các loại trái cây được xem là phát triển nhất của đất nước này vẫn đóng vai trò chủ đạo. Đó là chưa kể các nông trại nuôi gia súc, như bò,trâu,cừu,lừa v.v... đến gia cầm như gà,vịt, ngỗng và... cả nghề đánh cá nữa cũng vẫn được chú trọng.

    Ngoài ra Lưỡng Hà cũng đặc biệt chú trọng đến việc sản xuất vũ khí để phòng vệ và chế tạo đồ trang sức - phục vụ cho nhu cầu làm đẹp của phụ nữ, các nghề thuộc da, canh cửi nhất, nghề mộc... Tuy Lưỡng Hà có gần đủ mọi thứ song về ngành kiến trúc về mặt kỹ thuật vẫn còn chưa tiến triển.

    Về chế độ gia đình Lưỡng Hà thuộc về phụ hệ có quyền đa thê, quyền này được thừa nhận. Các con cái đều có quyền thừa kế và đối xử như nhau. Xã hội có nhiều giai cấp, giai cấp thượng tằng là các chủ nô gồm thành phần các nhà quyền quí, các tư sản cũng như các tăng lữ, có quyền chiếm hữu được ruộng đất và tài sản công cộng... có quyền thuê mướn người làm nô lệ v.v...

    Về văn hóa, tôn giáo lúc bấy giờ giữ một vị thế quan trọng trong đời sống tâm linh của người Sumeria, người Akkad... Họ thờ cúng đa thần và do đó họ có lắm chuyện thần thoại. Tuy vậy, đối với cái chết họ quan niệm giản đơn hơn Ai cập.

    Chính thời kỳ có tôn giáo ra đời đã đem lại cho nền văn học nghệ thuật một mức độ cao hơn. Gần như hầu hết các tác phẩm của Lưỡng Hà lúc bấy giờ đều ghi lại những bài thơ, các câu ca dao nói lên tinh thần dân tộc liên quan đến nền văn minh hoặc cung cách của đời sống v.v... Đặc biệt hai tác phẩm được xem là xuất sắc nhất đó là: tác phẩm Enuma Elit và Anh Hùng Ca Glingamete mà nội dung của hai tuyệt tác này nói về SỰ SÁNG TẠO CỦA VŨ TRỤ và giải đáp cái gì sẽ tồn tạn tại vĩnh viễn ở trần gian này.

    Các công trình đồ sộ của Lưỡng Hà như cung điện đến đền miếu được cất trên những bệ cao và tất cả đều dùng bằng vật liệu gạch đá. Cung điện được xem là một công trình vĩ đại nhất của bang Lagate vào thế kỷ thứ XXll Tr.CN. đó là cung điện của Judea. Judea là vị hoàng đế của thành Lagate. Thời kỳ này các lịch pháp Âm, Dương lịch cũng đã ra đời và các đài Chiêm tinh còn rải rác tại nhiều nơi được xem là những di tích lịch sử của một nền văn minh cổ đại ở Tây Á.



  3. #3
    Ngày tham gia
    Apr 2008
    Số Bài Viết
    2,505
    Like
    364
    Thanked 492 Times in 278 Posts
    Lịch Sử Chiêm Tinh Học Ai Cập


    Chiêm tinh học đã đóng một vai trò quan trọng trong xã hội kể từ khi bắt đầu có nền văn minh thế giới và thậm chí có thể đã có từ trước đó. Lịch sử chiêm tinh học đã có từ rất lâu; người ta tin rằng nguồn gốc của nó bắt đầu ở Hy Lạp. Tuy nhiên, theo nghiên cứu mới nhất của các nhà khoa học, chiêm tinh học đã ra đời trước đó rất nhiều và người Ai Cập cổ đại đã ứng dụng thuật ''bói toán'' này để tiên đoán hầu hết các vấn đề diễn ra trong cuộc sống thường nhật.

    Những người Sumerian là cư dân đầu tiên định cư tại Mesopotamia từ khoảng 4.000 năm trước Công nguyên và là những người đầu tiên thờ Thần Mặt trời, Thần Mặt trăng và Thần Tình ái. Họ coi những vị thần này như là những đấng tối cao che chở cho cuộc sống bình yên của họ. Tên của Thần mặt trăng là Wanna; Thần mặt trời là Utu; và Thần Tình ái là Inanna. Và những người Sumeria chỉ thờ có 3 vị thần này; nhưng thực tế thì có rất nhiều vị thần khác cũng không kém phần quan trọng được thờ trong các lăng tẩm của người Sumerian. Người Akkandoan ở gần khu vực Sumer cũng chọn Thần Mặt trời, Mặt trăng và thần Tình ái để thờ; và chỉ thay tên của những vị thần này mà thôi. Nói chung hầu hết các bộ lạc đều thờ ba vị thần này, chỉ có điều với tên gọi khác nhau. Việc đặt tên cho các vị thần do các thành viên của cộng đồng đó quyết định, gắn với một dấu tích nào đó của cộng đồng.

    Thầy tu là những người đầu tiên đảm trách công việc ''giao tiếp'' với các đấng thần linh. Do vậy mà hệ thống đền thờ miếu mạo được tạo ra và hàng trăm nghìn người với nhiều vai trò khác nhau đã đến đây theo yêu cầu của các vị linh mục chức cao; nhạc sĩ... Một trong những vị thầy tu này đã trở thành nhà vua. Vị vua này đã lập một ''cung điện'' riêng và đặt dưới sự cai quản của một nhà chiêm tinh học. Người này sẽ là một nhà ''thông ngôn'' diễn giải về bầu trời, những dự báo về các hiện tượng tự nhiên như nguyệt thực, nhật thực... Và người ta còn nói rằng ''thầy tu'' là những nhà chiêm tinh học đầu tiên. Để có thể ''giao tiếp'' được với các vị thần thì phải lập những ''đền thờ'' trên những ngọn núi cao. Những ''đền thờ'' qua thời gian sẽ ngày một phát triển thành những công trình kiến trúc lớn hơn được gọi là ''ziggurats''.

    Những thầy tu người Sumerian được xem là những nhà chiêm tinh học và họ phải có nhiệm vụ dự đoán chính xác các hiện tượng tự nhiên, mà thời đó người ta còn gọi là các hiện thuộc về các đấng siêu nhiên. Thời đó, người ta xem việc tiên tri là một loại hình nghệ thuật hơn là khoa học vì các thày tu đã không đủ tài năng để ''biến hoá tinh xảo'' mọi sự vật hiện tượng. Tuy nhiên, họ đã có những thành công bước đầu trong việc dự đoán hiện tượng nguyệt thực; tiếp đó với sự hỗ trợ của toán học dẫn đến việc hình thành và phát triển của luật về thiên văn học (Đây là đặc điểm để giúp các nhà khoa học phân biệt được sự khác nhau giữa thiên văn học và chiêm tinh học).

    Thiên văn học là những nghiên cứu khoa học về vũ trụ, về các vì sao, về hành tinh và những chuyển động của chúng. Chiêm tinh học là những nghiên cứu tiền khoa học về những ảnh hưởng của nó đối với những hoạt động của con người. Các thầy tu thực sự rất chú trọng việc dự đoán các hiện tượng tự nhiên (thời tiết, vũ trụ) để thể hiện sức mạnh quyền lực của họ. Tuy nhiên, bằng những nỗ lực của mình; họ tập trung đến sự phát triển của loại hình chiêm tinh học. Họ đã đặt được lịch, xác định chu kỳ hoạt động của mặt trời, mặt trăng; các hành tinh và các vì sao. Họ có thể chia một năm thành 12 tháng dựa trên 12 chu kỳ của mặt trăng trong một năm.

    Vào năm 1.300 trước Công nguyên, thuật bói toán dựa vào ngày sinh bắt đầu hình thành. Thuật bói toán hay còn gọi là ''Tử vi'' là những tiên đoán căn cứ vào thời điểm mà những vì tinh tú xuất hiện và sự tác động con người.

    Kỷ nguyên Assynian đã đánh dấu một bước tiến mới trong sự phát triển của chiêm tinh học. Giai đoạn này kéo dài từ năm 1.300 đến 600 trước Công nguyên. Người Assynian đã phát hiện ra các chùm sao; thực tế họ đã định vị được 18 vì sao nằm trong một chùm. Đến năm 600 trước Công nguyên, họ phát hiện ra rằng một số các vì sao hợp lại; một số các vì sao khác biến mất để hình thành chùm sao có tên là Zodial.

    Người Assynian đã chú trọng đến 5 hành tinh và những chuyển động của chúng đối với các chùm sao này. Lý do vì sao họ lại chú trọng như vậy vì họ tin rằng những hành tinh này là các vị thần hay ít nhất là ngôi nhà của các vị thần. Tên của những hành tinh này cũng quen như tên mặt trời hay tên mặt trăng chỉ được thay bằng tên của người Hy Lạp sau đó là tên của người Roman; cuối cùng là tên tiếng Anh. Tên các hành tinh vào thời Assynian như sau: Sun = Shamash (Mặt trời); Moon = Sin (Mặt trăng), Venus = Ishtar (Sao Kim), Mercury = Nebo (Sao Thuỷ), Mar = Nergal (Sao Hoả), Satum = Ninurta (Sao Thổ); Tupite = Marduk (Mộc).

    Thời kỳ tiếp theo trong lịch sử của thuật chiêm tinh là thời kỳ Babylon Mới (600 - 300) trước Công nguyên. Các nhà chiêm tinh học nổi tiếng của thời kỳ này là Kiddinu, Berossus, Autipatrus, Aichinop và Sudines. Thời kỳ này được biết đến nhờ những lời tiên tri; điểm báo về những sự kiện chính xuất hiện.

    Người Hy Lạp bắt đầu gây nhiều ảnh hưởng lớn đến chiêm tinh học vào thế kỷ thứ 14 và 15 trước Công nguyên. Đây là thời kỳ của những nhà tiên phong nổi tiếng về khoa học hiện đại như Plato; Pitago, người ta đã khẳng định được thuyết ''trái đất quay xung quanh mặt trời''. Trong khi đó, nhà khoa học Euduxers lại cho rằng chiêm tinh học là điều nực cười; không ai tin vào những lời tiên tri về cuộc sống lại dựa vào ngày sinh của mình. Tuy nhiên, các nhà chiêm tinh học như Gritodemus; Apollognius vẫn tiếp tục công việc nghiên cứu về chiêm tinh hay tử vi bói toán.



  4. #4
    Ngày tham gia
    Apr 2008
    Số Bài Viết
    2,505
    Like
    364
    Thanked 492 Times in 278 Posts

    Mặc định Re: Các Nền Văn Minh Trên Thế Giới

    Lịch Sử Chiêm Tinh Học Ai Cập (P2)

    Người La Mã cổ đại không chấp nhận thuật ''chiêm tinh'' hoặc bói toán này. Nhưng vào khoảng năm 250 trước Công nguyên; một số lượng dân cư khá đông trở nên quan tâm đến chiêm tinh học nhưng nhiều kẻ bảo thủ thì đấu tranh chống lại hầu hết các tín ngưỡng, kể cả Đạo Thiên chúa. Họ đưa ra nhiều lý lẽ logic để chống lại những người tin vào ''tử vi'' bói toán; và cho rằng những người sinh ra cùng ngày cùng giờ thì có nhiều số phận khác nhau; những người sinh ra khác ngày khác giờ thì lại chết cùng giờ.

    Tuy nhiên, chiêm tinh học vẫn lan rộng sang khu vực Thành La Mã bất chấp những cố gắng để trục xuất các nhà chiêm tinh học ra khỏi đế chế.

    Nhưng cuối cùng thì chiêm tinh học vẫn được chấp nhận và hầu hết người La Mã cổ đại đã chịu chấp thuận một khía cạnh của giáo dục từ người Hy Lạp. Nếu người La Mã không cho phép du nhập chiêm tinh học vào nền văn hóa của mình thì mọi thứ đã khác xa so với những gì đóng góp của người Ai Cập đối với nghệ thuật.

    Vào năm 331 trước Công nguyên, Alexarder đã thiết lập ra thành phố Alexandnia. Đây là mốc đánh dấu giai đoạn khởi đầu của Graeco Roman trong lịch sử Ai Cập. Alexandnia trở thành một trong những thành phố Alellnistoc nổi tiếng. Hellnism là một thuật ngữ miêu tả cách sống của người Hy Lạp. Khi người La Mã bắt đầu quyền cai trị thì Alexandnia đã duy trì tiếng tăm của mình như trung tâm các hoạt động văn hoá. Cho đến khi Alexandnia bắt đầu quyền cai trị thì cách mạng khoa học cũng chấm dứt và mọi người đã tin vào chiêm tinh học. Lúc này người ta bắt đầu biết đến tiếng tăm của Claudine Potelen. Thực chất thì Claudus Potelenry không có gì nổi tiếng; người ta chỉ biết đến ông là một người Hy Lạp. Nhưng ông là một nhà chiêm tinh học người Ai Cập; một nhà toán học; một nhà địa lý học đã sống ở gần Alexandnia. ít nhiều thì những hình ảnh của ông cũng là những thông tin tác động đến cuộc sống của Ptolemy.

    Ptolemy nghiên cứu các dữ liệu về những nhà chiêm tinh học trước đó để vẽ ra, phác thảo ra bản đồ của một nghìn ngôi sao. Ông đã thu thập được 48 chòm sao và miêu tả được các kinh tuyến, vĩ tuyến, kinh độ, vĩ độ của trái đất. Ptolemaic tin rằng trái đất là trung tâm vũ trụ và đã nỗ lực để nghiên cứu học thuyết này. Tại sao nhiều hành tinh chuyển động theo thời gian, theo quỹ đạo xung quanh trái đất. Ông cũng đưa ra lý thyết mỗi hoạt động lại quay theo một quỹ đạo nhỏ hơn và một quỹ đạo lớn hơn. Lý thuyết này có tên gọi ''epicyle''. Và lý thuyết này vẫn tồn tại trong vòng 1.400 năm; cho đến thuyết "trái đất quay xung quanh mặt trời" được tìm ra.

    Ptolemy cũng theo đuổi những lĩnh vực nghiên cứu khác nhau. Ông viết sách về địa lý mà ở đó là bản đồ, kinh tuyến; vĩ tuyến. Ông cũng nghiên cứu về sự khúc xạ ánh sáng trong cuốn sách Quang học. Ông cũng viết cuốn sách mang tên ''Mathematical Treatise in 4 Books'' và nó là nền tảng cho sự phát triển của ''chiêm tinh học'' hiện đại đã phổ biến ở Phương Tây lúc bấy giờ. Tên cuốn sách mà chúng ta dùng cho việc bói toán ngày nay là ''Tetrabiblo'' không còn dữ liệu nào về việc Ptolemy đã tiến hành nghiên cứu như thế nào; tuy nhiên người ta vẫn cho rằng tất cả những gì Ptolemy đạt được là nhiều dự đoán chính xác nhất.

    Không còn phiên bản gốc nào về việc cuốn Tetrabiblo vẫn còn tồn tại. Tất cả còn lại chỉ là những bản dịch và các bản sao; cuốn cũ nhất là Arbic có từ năm 900 sau Công nguyên. Vì những bản dịch tiếng Latinh trở nên quen thuộc đối với người châu Âu. Phiên bản tiếng Anh cũng được chuyển dịch từ tiếng Hy Lạp vào năm 1940. Có 4 cuốn sách viết về công việc nghiên cứu này và mỗi cuốn đề cập đến từng khía cạnh khác nhau của chiêm tinh học.

    - Cuốn thứ nhất đề cập đến lý do của Ptolemy trong việc áp dụng chiêm tinh học trong cuộc sống.

    - Cuốn thứ 2 Tetrabibalo nói về những mối liên quan của chiêm tinh học các nước.

    - Cuốn thứ 3 đề cập đến con người; nói về những khái niệm về ngày sinh

    - Cuốn cuối cùng là đề cập đến các vấn đề nghề nghiệp hôn nhân con cái, đi lại...

    Tetrabiblos bao gồm tất cả những nghiên cứu về chiêm tinh học, việc khía cạnh khác cũng được đề cập đến nhưng tất cả những gì chúng ta biết đến về chiêm tinh học đều bắt nguồn từ công việc nghiên cứu này.

    Một số nhà phê bình cho rằng, cuốn sách chứa đựng khá nhiều mâu thuẫn ngay trong tư tưởng của Ptolemy. Hơn nữa ông đã không tính đến hiện tượng sự chồng chéo giữa các chòm sao và những chòm sao trở nên lớn hơn qua thời gian (5/300 năm) nhưng tại sao ông lại không xác nhận và giải thích về sự huyền bí này trong nghiên cứu của mình.

    Có một số vấn đề về mối tương quan giữa chiêm tinh học và các mùa. Ông tin rằng khái niệm thời gian là hoàn hảo đối với việc bói toán theo ngày sinh; và khái niệm thời gian đến với mỗi người là tương đối khó, dẫn đến một số sai sót trong nghiên cứu của ông. Nhưng nhìn chung các nội dung trong Ietrabiblos không có nhiều giá trị tính đến ngày nay.

    Một số nhà chiêm tinh học Ai Cập nối gót Ptolemy nghiên cứu về chiêm tinh học như Paul Alexandnia, Hephestion... Họ nghiên cứu thêm về Tetrabibleo của Ptolemy. Khoảng năm 800 sau Công nguyên; chiêm tinh học bị rơi vào quyên lãng một thời gian. Và sau đó hồi sinh vào thế kỷ thứ 8 khi người Hồi giáo bắt đầu tin vào ''chiêm tinh học'' Hellenistoc. Đó là Almumasar, một nhà trí thức theo đạo Hồi, ông đã mang niềm tin về chiêm tinh học như chúng ta đã biết đến với thế giới phương Tây.

    Tóm lại, Ai Cập là đất nước có nhiều đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của chiêm tinh học, những thăng trầm trong lịch sử Ai Cập đã để lại dấu ấn đậm nét trong sự phát triển của ngành chiêm tinh học. Những đóng góp này thực sự có ý nghĩa đối với sự phát triển và tiến hoá của nhân loại.



  5. #5
    Ngày tham gia
    Apr 2008
    Số Bài Viết
    2,505
    Like
    364
    Thanked 492 Times in 278 Posts

    Mặc định Re: Các Nền Văn Minh Trên Thế Giới

    Đế quốc Ai Cập



    Tôn giáo Ai-cập

    Huân tước Flinders Petrie, nhà Ai-cập học trứ danh, nói rằng tôn giáo nguyên thủy của Ai-cập là độc thần giáo. Nhưng trước khi thời kỳ lịch sử bắt đầu, đã phát triển một tôn giáo trong đó mỗi bộ lạc có vị thần riêng, hình dung bằng một con vật.

    Ptah (Apis) là thần của thành Mem-phi, hình dung bằng con bò.

    Amon, thần của thành Thèbes, hình dung bằng con chiên đực.

    Hathor, nữ thần thượng đẳng của Ai-cập, hình dung bằng con bò cái.

    Mut, vợ của Amon, hình dung bằng con kên kên.

    Horus, thần của từng trời, hình dung bằng con chim ó.

    Ra, thần mặt trời, hình dung bằng con diều hâu.

    Set (Sa-tan), thần của biên giới phía Ðông, hình dung bằng con cá sấu.

    Osiris, thần của kẻ chết, hình dung bằng con dê. Isis, vợ của nó, hình dung bằng con bò cái.

    Thoth, thần của trí khôn, hình dung bằng con khỉ không đuôi.

    Heka, một nữ thần, hình dung bằng con nhái.

    Nechebt, nữ thần của Nam bộ, hình dung bằng con rắn.

    Bast, một nữ thần, hình dung bằng con mèo.

    Còn nhiều thần khác nữa. Các Pha-ra-ôn được tôn làm thần. Sông Ni-lơ là sông thánh.



    Lịch sử Ai-cập đương thời dân Y-sơ-ra-ên làm nô lệ tại Ê-díp-tô

    Ðang khi dân Y-sơ-ra-ên kiều ngụ tại Ai-cập, thì nước nầy tiến thành một đế quốc cai trị cả thế giới (mà người ta biết thời đó). Khi dân Y-sơ-ra-ên ra đi, Ai-cập bèn suy yếu, trở nên một cường quốc hạng nhì và cứ ở địa vị ấy mãi. Từ thời Giô-sép cho đến sau khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập, đã có các triều đại sau nầy:

    Triều đại thứ 13,14,17.-- 25 vua. Cai trị ở phương Nam, còn dòng Hyksos cai trị ở phương Bắc. Ðây là một thời kỳ rất rối loạn.

    Triều đại thứ 15,16.-- 11 vua. Dòng Hyksos, hoặc các vua chăn chiên, là một giống Sémitique từ Á-châu đến chinh phục Ai-cập. Họ là bà con gần với người Do-thái, từ phương Bắc tràn xuống, thống nhứt quyền cai trị Ai-cập và xứ Sy-ri. Người ta thường cho rằng Apepi đệ nhị, thuộc triều đại thứ 16, là Pha-ra-ôn đã đại dụng Giô-sép. Ðang khi dòng Hyksos trị vì, thì dân Y-sơ-ra-ên được địa vị tối huệ trong xứ. Nhưng khi dòng Hyksos bị triều đại thứ 18 đuổi đi, thì chánh phủ Ai-cập thay đổi thái độ, bắt đầu dùng những biện pháp đàn áp để kéo dân Y-sơ-ra-ên vào vòng tôi mọi.

    Triều đại thứ 18: 13 vua.

    Triều đại thứ 19: 8 vua.

    Hai triều đại nầy đã đưa Ai-cập lên địa vị đế quốc cai trị cả thế giới (mà người ta biết thời đó). Dưới đây là tên các vua thuộc hai triều đại nầy:

    Amosis (Ahmes, Ahmose).-- 1580 T.C.. Ðuổi dòng Hyksos đi. Bắt xứ Pa-lét-tin và xứ Sy-ri làm chư hầu của Ai-cập.

    Amenhotep (Amenophis).-- 1560 T.C.

    Thothmes (Thothmes, Thutmose).-- 1540 T.C.. Cầm quyền cai trị tới sông Ơ-phơ-rát. Lăng tẩm đầu tiên đục trong vầng đá.

    Thothmes đệ nhị.-- 1510 T.C.. Hatshepsut, chị cùng cha khác mẹ và cũng là vợ của ông, thật đã cầm quyền cai trị. Thường đem quân tấn công miền sông Ơ-phơ-rát.

    Thothmes đệ tam.-- 1500 T.C.. Hoàng hậu Hatshepsut, là chị cùng cha khác mẹ của ông, đã cầm quyền phụ chánh trong 20 năm đầu đời trị vì của ông. Dầu ông khinh dể bà nầy, nhưng bà đã hoàn toàn cai trị ông. Sau khi bà qua đời, thì ông một mình trị vì 30 năm. Ông là người chinh phục oai hùng nhứt trong lịch sử Ai-cập. Ông khắc phục xứ Ê-thi-ô-bi, cai trị đến tận miền sông Ơ-phơ-rát, tiến đánh xứ Pa-lét-tin và Sy-ri 17 lần. Ông đã tổ chức Hải quân. Ông đã thâu trữ rất nhiều của cải và thực hiện nhiều công trình kiến trúc vĩ đại. Ông ghi công nghiệp của mình rất tỉ mỉ trên các bức tường và đài kỷ niệm. Lăng tẩm ông ở tại thành Thèbes, và xác ướp của ông hiện nay ở tại kinh thành Le Caire (Ai-cập). Nhiều người cho rằng ông là vua đã hà hiếp dân Y-sơ-ra-ên. Nếu vậy, thì hoàng hậu Hatshepsut trứ danh chính là con gái Pha-ra-ôn đã cứu vớt, trưởng dưỡng Môi-se, và trở nên người bạn oai quyền của Môi-se.

    Hatshepsut.-- Con gái của Thothmes đệ nhứt. Làm phụ chánh cho em cùng cha khác mẹ và chồng của mình, là Thothmes đệ nhị, và cho em cùng cha khác mẹ của mình là Thothmes đệ tam trong 20 đầu đời trị vì của vua nầy. Bà là hoàng hậu trứ danh đầu tiên trong lịch sử. Bà là bậc phụ nữ rất có tiếng tăm, là một trong những người cai trị nước Ai-cập oai hùng hơn hết. Ðã cho tạc nhiều tượng hình dung mình như một bậc trượng phu. Mở mang đế quốc. Xây cất nhiều đài kỷ niệm, hai tháp lớn tại Karnak, và miễu thờ đồ sộ tại Deir El Bahri trong đó có bày nhiều tượng của bà. Thothmes đệ tam ghét bà, và khi bà qua đời, một trong những hành động đầu tiên của ông là bôi xóa tên bà khỏi mọi đài kỷ niệm và hủy phá hết tượng của bà. Những tượng của bà ở Bahri bị đập ra từng mảnh, quăng vào một hầm đá gần đó. Tại đây, nó bị cát bay phủ kín, và mới đây, nhơn viên Bảo-tàng-viện Thủ đô đã tìm được những mảnh tượng nầy.

    Amenhotep đệ nhị.-- 1450 T.C.. Nhiều học giả cho ông nầy là Pha-ra-ôn đương thời dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập. Ông duy trì đế quốc do Thothmes đệ tam sáng lập. Xác ướp của ông ở trong lăng tẩm tại thành Thèbes.

    Thothmes đệ tứ.-- 1420 T.C.. Người ta tìm thấy chiếc xe ngựa mà ông đã dùng. Xác ướp của ông hiện nay ở tại kinh thành Le Caire.

    Amenhotep đệ tam.-- 1415 T.C.. Ðế quốc lên tới cực điểm vinh quang. Luôn luôn xâm lăng xứ Pa-lét-tin. Xây cất những miễu thờ đồ sộ. Xác ướp của ông hiện nay ở tại kinh thành Le Caire.

    Amenhotep đệ tứ.-- Năm 1380 T.C.. Ông là một nhà cải cách tôn giáo, chớ không phải một chiến sĩ. Dưới đời trị vì của vua nầy, Ai-cập mất đế quốc ở Á-châu. Ông toan thiết lập độc thần giáo, là sự thờ lạy mặt trời. Vì các tế sư ở thành Thèbes phản đối chương trình của ông, nên ông dời thủ đô qua Amarna. Nếu dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập dưới đời trị vì của Amenhotep đệ nhị, mấy chục năm trước, thì phong trào độc thần nầy có thể do ảnh hưởng gián tiếp của các phép lạ Môi-se đã làm.

    Semenka.-- 1362 T.C.. Một vua nhu nhược.

    Tutankhamen.-- 360-1350 T.C.. Con rể của Amenhotep đệ tứ. Ông là một trong những vua Ai-cập tầm thường, vào lúc chấm dứt thời kỳ vinh quang nhứt của lịch sử nước ấy. Nhưng ngày nay ông nổi danh vì cớ những vật báu lạ lùng và sự huy hoàng của lăng tẩm ông, do nhà khảo cổ Howard Carter khám phá được năm 1922. Xác ướp của ông vẫn ở trong lăng tẩm. Quan tài phía trong chứa xác ướp làm bằng vàng khối. Xe ngựa và ngai của ông vẫn còn đó. Ðây là lăng tẩm của một Pha-ra-ôn chưa bị trộm cắp mà người ta khám phá được.

    Ay (Eye) và Setymeramen.-- 1350 T.C.. Hai ông vua nhu nhược.

    Harmhab (Harembeb).-- 1340 T.C.. Khôi phục sự thờ lạy Amon.

    Ramsès đệ nhứt.-- 1320 T.C..

    Seti (Sethos) đệ nhứt.-- 1319 T.C.. Xứ Pa-lét-tin được khôi phục. Bắt đầu xây cất lâu đài đồ sộ tại Karnak. Xác ướp của ông hiện nay ở tại kinh thành Le Caire.

    Ramsès đệ nhị.-- 1300 T.C.. Trị vì 65 năm. Ông là một trong những Pha-ra-ôn oai hùng nhứt, mặc dầu kém Thothmes đệ tam và Amenhotép đệ tam; nhưng ông là một nhà đại kiến trúc, một nhà quảng cáo đại tài, và hơi có óc sang đoạt, vì trong một vài trường hợp, ông đã nhận công nghiệp của các tiên vương của mình. Ông khôi phục đế quốc từ xứ Ê-thi-ô-bi tới sông Ơ-phơ-rát. Nhiều lần ông đã xâm lăng và cướp phá xứ Pa-lét-tin. Ông hoàn thành lâu đài đồ sộ tại Karnak cùng nhiều công trình kiến trúc lớn lao khác, như thành lũy, kinh đào, miễu thờ, do công lao xây cất của bọn tôi mọi bắt được trên chiến trường, hoặc của đoàn lũ người da đen từ phương Nam xa xôi đem về, và cũng của giai cấp cần lao bổn quốc. Những bọn người nầy làm lụng khó nhọc tại hầm đá hoặc lò gạch, hoặc kéo tảng đá lớn trên đất mềm.

    Merneptah.-- 1235 T.C., có người tưởng ông nầy là Pha-ra-ôn đương thời dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập. Xác ướp của ông ở tại kinh thành Le Caire. Phòng thiết triều của ông tại thành Mem-phi (Ô-sê 9:6) đã do phái đoàn của Bảo tàng viện Ðại học đường Pennsylvania phám phá được.

    Arnenmeses, Siptah, Seti đệ nhị.-- Ba vua nhu nhược.



  6. #6
    Ngày tham gia
    Apr 2008
    Số Bài Viết
    2,505
    Like
    364
    Thanked 492 Times in 278 Posts

    Mặc định Re: Các Nền Văn Minh Trên Thế Giới

    Đế quốc Ai Cập (P2)



    Ai là Pha-ra-ôn trong sách Xuất Ê-díp-tô ký?

    Có hai ý kiến đáng kể hơn hết:

    Amenhotep đệ nhị.-- (1450-1430 T.C.), hoặc Merneptah (1235-1220 T.C.).

    Nếu dân Y-sơ-ra-ên rời khỏi Ai-cập dưới đời trị vì của Amenhotep đệ nhị, thì Thothmes đệ tam là vua đã hà hiếp dân Y-sơ-ra-ên rất tàn khốc, còn chị của ông lại trưởng dưỡng Môi-se. Người chị nầy chính là hoàng hậu Hatshepsut trứ danh. Những thực sự trong đời trị vì của bà ăn hiệp với truyện tích Kinh Thánh một cách lạ lùng dường nào! Bà chú ý đến các mỏ ở vùng Si-na-i, và đã trùng tu miễu thờ ở Serabit mà Môi-se có lẽ đã xem thấy khi ông có cơ hội làm quen với vùng Si-na-i nầy. Lại nữa, khi Môi-se sanh ra, thì Thothmes đệ tam còn thơ ấu, và Hatshepsut làm phụ chánh. Ðến khi bà qua đời, thì dân Y-sơ-ra-ên càng bị hà hiếp tàn khốc hơn, và Môi-se chạy trốn. Mấy điều nầy cũng giải thích một phần nào cái uy tín của Môi-se tại Ai-cập.

    Nếu dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập dưới đời trị vì của Merneptah, thì Ramsès đệ nhị là vua đã hà hiếp dân Y-sơ-ra-ên rất tàn khốc, còn con gái ông đã trưởng dưỡng Môi-se.

    Như vậy, Môi-se đã được trưởng dưỡng hoặc dưới đời trị vì của Thothmes đệ tam, hoặc dưới đời trị vì của Ramsès đệ nhị, -- cả hai ông nầy đứng trong hàng các vua danh tiếng nhứt Ai-cập.

    Và Môi-se đã dẫn dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập hoặc dưới đời trị vì của Amenhotep đệ nhị, hoặc dười đời trị vì của Merneptah.

    Dầu sao đi nữa, người ta cũng đã tìm được xác ướp của cả bốn vua nầy. Vậy, bây giờ ta có thể thấy bộ mặt thực của Pha-ra-ôn đương thời Môi-se, -- với chính Pha-ra-ôn đó, Môi-se đã có liên quan rất mật thiết.

    Khám phá được các xác ướp

    Năm 1871, trên một ghình đá chưa từng có ai để chơn tới, ở phía sau thành Thèbes, một người Ả-rập đã khám phá được một ngôi mộ chứa đầy bửu vật và quan tài chứa 40 xác ướp của những vua và hoàng hậu Ai-cập. Anh ta giữ bí mật trong 10 năm để bán các bửu vật ấy cho du khách. Những bửu vật của các vua oai hùng nhứt thời xưa bắt đầu thấy lưu hành. Các nhà chức trách của Bảo tàng viện Le Caire bèn đi đến thành Thèbes để điều tra. Họ tìm được người Ả-rập nầy. Bằng cách cho tiền, tra khảo và dọa nạt, họ đã bắt anh ta chỉ chỗ đó cho. Các xác ướp không ở trong phần mộ nguyên thủy, nhưng bị dời tới một nơi giấu bí mật từ thuở xưa vì đã sớm xuất hiện những kẻ chuyên nghiệp quật mồ để ăn trộm. Những xác ướp nầy đã được dời về Le Caire.

    Pha-ra-ôn đương thời dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập:

    Amenhotep đệ nhị hay là Merneptah?

    Các bằng cớ tỏ ra là Amenhotep đệ nhị.-- 1. Các thơ tín Amarna gởi cho Amenhotep đệ tam và Amenhotep đệ tứ, khẩn cấp xin Pha-ra-ôn tiếp viện, tỏ ra rằng thời ấy (theo niên hiệu sớm hơn của việc dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập), xứ Pa-lét-tin đang bị mất về tay người "Habiri." Ðây là một đoạn trích lục: "Người Habiri đang chiếm thành trì, đô thị của ta, tiêu diệt các quan cai trị của ta, cướp phá toàn xứ của vua. Xin vua gởi quân sĩ đến mau chóng. Nếu nội năm nay, không gởi quân sĩ đến, thì toàn xứ sẽ mất khỏi tay vua."

    Nhiều học giả cho rằng người "Habiri" tức là người "Hê-bơ-rơ;" như vậy, đây là thơ của người từ xứ Ca-na-an mô tả cuộc chinh phục xứ ấy bởi tay Giô-suê. Còn các nhà học giả quả quyết dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập nhằm niên hiệu muộn hơn, thì cho rằng người "Habiri" có thể là những kẻ trước đó đã xâm lăng hoặc di cư (I Sử ký 4:21-22; 7:21).

    2. Khảo cổ học chứng thực rằng thành Giê-ri-cô đã sụp đổ khoảng năm 1400 T.C.. Tấn sĩ John Garstang, người đã đào bới khắp vùng Giê-ri-cô, tin quyết điểm nầy.

    Các bằng cớ tỏ ra là Merneptah.-- Tấm bảng "Y-sơ-ra-ên" của Merneptah.-- Năm 1906, Huân tước Flinders Petrie tìm thấy một phiến thiểm trường thạch đen có ghi chép những cuộc chiến thắng của Merneptah, nhằm năm thứ 5 đời trị vì của ông. Phiến đá nầy cao hơn ba thước tây, và bề ngang hơn một thước rưỡi, hiện nay bày trong Bảo-tàng-viện Le Caire. Chữ "Y-sơ-ra-ên" được ghi ở giữa dòng thứ hai, tính từ dưới lên. Ðây là bản ký văn: "Ca-na-an bị cướp phá. Y-sơ-ra-ên bị hoang vu; dòng dõi nó không còn nữa. Ðối với Ai-cập, xứ Pa-lét-tin đã trở thành một quả phụ." Ký văn nầy dường như ngụ ý nói đến việc dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập. Câu: "Dòng dõi nó không còn nữa" có thể chỉ về sự tiêu diệt những con trai nhỏ tuổi. Vì các vua thời xưa không hề chép việc chi trừ ra những cuộc chiến thắng của mình, nên sự thực có lẽ là như vầy: Dầu cố hết sức ngăn cản dân Y-sơ-ra-ên ra đi không được, nhưng ông cũng ghi chép sự họ ra đi khỏi Ai-cập như là mình đã thắng dân ấy.

    Các học giả đã quyết đoán dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập nhằm niên hiệu sớm hơn, thì cho rằng ký văn nầy ngụ ý nói đến việc Merneptah xâm lăng xứ Pa-lét-tin chừng 200 năm sau khi dân Y-sơ-ra-ên đã định cư trong xứ Ca-na-an .

    2. Ramsès đệ nhị tự nhận rằng mình đã xây cất hai thành Phi-thom và Ram-se với nhơn công Y-sơ-ra-ên (Xuất Ê-díp-tô ký 1:11).

    Năm 1883, ông Naville đã tìm ra vị trí thành Phi-thom. Trên cổng thành, ông thấy một bi văn của Ramsès đệ nhị: "Ta đã xây thành Phi-thom ở cửa phía Ðông của sông Ni-lơ."

    Ông tìm thấy một tòa nhà có tường dày phi thường, trên gạch có khắc tên Ramsès đệ nhị. Chỉ có một lối vào do mái nhà. Ðây là những kho tàng mà dân Y-sơ-ra-ên đã xây cất.

    Năm 1905, ông Petrie tìm ra vị trí thành Ram-se. Năm 1922, tại thành Bết-san (I Sa-mu-ên 31:10), thuộc xứ Pa-lét-tin, ông Fisher, nhơn viên Bảo-tàng-viện Ðại học đường Pennsylvania, đã tìm thấy một tấm bia của Ramsès đệ nhị, cao chừng 2 thước rưỡi, rộng chừng 80 phân, trên đó ghi khắc rằng ông "xây cất thành Rase với nhơn công của bọn tôi mọi Sémitique thuộc Á-châu (Hê-bơ-rơ)."

    Như vậy, hai bi văn nầy chỉ rõ Ramsès đệ nhị là Pha-ra-ôn đã truyền xây cất hai thành nầy cho mình, và là kẻ đã hà hiếp dân Y-sơ-ra-ên; và như vậy, cũng chỉ rõ người kế vị ông, là Merneptah, chính là Pha-ra-ôn đương thời dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập. Tuy nhiên, người ta biết rằng Ramsès đệ nhị là một tay hay sang đoạt, đã nhận một số đài kỷ niệm của các vị tiên đế là của mình, và truyền ghi khắc tên mình trên những đài kỷ niệm ấy. Các nhà học giả chấp nhận niên hiệu sớm hơn của việc dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập và chấp nhận Thothmes đệ tam là vua đã xây cất hai thành nầy, đều cho các bi văn trên đây có nghĩa là Ramsès đệ nhị đã xây cất lại hoặc sửa chữa hai thành nầy với công lao của những người Hê-bơ-rơ không cùng ra đi với Môi-se.

    Về đại cương, chúng tôi nghĩ rằng các bằng cớ chứng rõ hơn rằng Amenhotep đệ nhị chính là Pha-ra-ôn đương thời dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập.

    Di tích thành Thèbes

    Di tích thành Thèbes mà người Y-sơ-ra-ên đã dự phần xây cất, thật là di tích vĩ đại nhứt thế giới. Vị trí thành Thèbes ở trên cả hai bờ sông Ni-lơ, trong một đồng bằng hình bán nguyệt, giữa các ghình đá phía Ðông và phía Tây. Di tích thành Thèbes chiếm một khu vực chừng 5 dặm từ Ðông qua Tây, và 3 dặm từ Bắc xuống Nam. Không một đô thị nào có nhiều miễu thờ, cung điện và đài kỷ niệm bằng đá như vậy. Ðá chạm những màu lộng lẫy hơn hết và óng ánh vàng thật. Thèbes trở nên một đô thị lớn dưới triều đại thứ 12, tức là 2000 năm T.C., đương thời Áp-ra-ham. Thành nầy được vinh quang từ 1600 đến 1300 T.C., là khoảng dân Y-sơ-ra-ên kiều ngụ tại Ai-cập; chắc nhiều đền đài tráng lệ của nó do công lao khó nhọc, mồ hôi và máu của bao nhiêu ngàn tôi mọi Y-sơ-ra-ên, không sao đếm xiết. Thành bị quân A-sy-ri hủy phá năm 661 T.C., rồi được xây cất lại, rồi lại bị quân Ba-tư triệt hạ năm 535 T.C.. Thành bị hủy hoại bởi một nạn động đất năm 27 T.C., và từ đó tới nay, chỉ còn là một đống hoang tàn.

    Miễu đồ sộ thờ thần Amon

    Tại Karnak, thuộc khu phía Ðông thành Thèbes, có một công trình kiến trúc vào hạng đồ sộ nhứt. Phần chính giữa của công trình kiến trúc nầy gọi là Lâu đài có trụ đỡ; người ta đã tưởng tượng Lâu đài nầy sừng sững đương thời vinh quang và đã nắn lại kiểu mẫu của nó, đem bày tại Bảo-tàng-viện Thủ đô. Trên cổng chính đi vào có một vầng đá dài chừng 13 thước tây và cân nặng 150 tấn. Có 134 cây trụ lớn, mà 12 cây chính giữa cao chừng 24 thước tây và đường kính gần 4 thước. Trên đỉnh một cây trụ nầy đủ chỗ cho 100 người đứng.

    Hai ngọn tháp của hoàng hậu Hatshepsut, mà một còn đứng nguyên, cao chừng 31 thước tây, cân nặng 150 tấn, có bi văn ghi rằng nó được chở về trên 30 chiếc thuyền ghép lại, gồm 960 tay chèo, từ các hầm đá cách xa 150 dặm.



  7. #7
    Ngày tham gia
    Apr 2008
    Số Bài Viết
    2,505
    Like
    364
    Thanked 492 Times in 278 Posts

    Mặc định Re: Các Nền Văn Minh Trên Thế Giới

    Nước Ai-cập và Kinh Thánh

    Trước hết, Ai-cập có dòng dõi của Cham đến cư ngụ. Áp-ra-ham đã ở Ai-cập ít lâu. Gia-cốp cũng vậy. Giô-sép cầm quyền nước Ai-cập. Dân tộc Hê-bơ-rơ, trong thời ấu trĩ, đã ở Ai-cập 400 năm. Môi-se là con nuôi của một hoàng hậu Ai-cập, và khi được dự bị làm nhà lập pháp của nước Y-sơ-ra-ên, ông đã được dạy cho mọi khôn ngoan và tri thức của nước Ai-cập. Sa-lô-môn đã cưới con gái của một Pha-ra-ôn (vua) Ai-cập. Tôn giáo Ai-cập, là sự thờ bò con, đã trở thành tôn giáo của nước Y-sơ-ra-ên ở phương Bắc. Giê-rê-mi đã qua đời tại Ai-cập. Từ kỳ Lưu đày cho đến thời Ðấng Christ, có rất đông người Do-thái ở Ai-cập. Bản dịch Cựu Ước "Septante" đã được thực hiện tại Ai-cập. Ðức Chúa Jêsus ở Ai-cập ít lâu đương thời thơ ấu. Ai-cập đã trở nên một trung tâm quan trọng của đạo Ðấng Christ lúc khởi đầu.

    Ai-cập

    Một thung lũng rộng từ 2 đến 30 dặm, và rộng trung bình chừng 10 dặm, bề dài 750 dặm; có sông Ni-lơ chảy từ Aswan tới Ðịa-trung-hải, qua đầu phía đông của sa mạc Sahara, mỗi bên đều có một cao nguyên hoang vu, cao chừng 310 thước.

    Ðáy thung lũng có phù sa đen rất tốt lắng xuống đóng kín, từ cao nguyên xứ A-bít-si-ni đổ xuống; phù sa nầy phì nhiêu vô song, và luôn luôn đổi mới vì sông Ni-lơ tràn lút hằng năm.

    Thung lũng nầy được dẫn thủy nhập điền từ lúc khởi đầu lịch sử, do một hệ thống kinh đào cùng hồ chứa nước rộng lớn và kỹ xảo. Ðập Aswan, do người Anh xây ít lâu nay, hiện chế ngự sự tràn lụt của sông Ni-lơ, và nạn đói chỉ là chuyện quá khứ.

    "Ai-cập được sa mạc bao quanh, cô lập hóa và che chở; tại đây, đại đế quốc thứ nhứt trong lịch sử đã được phát triển; cũng tại đây, những chứng cớ của nền văn minh thượng cổ đã được bảo tồn hơn nơi nào hết."

    Ngày nay, dân số chừng 16 triệu; đương thời đế quốc La-mã, dân số có 7 triệu; đương thời dân Y-sơ-ra-ên kiều ngụ, có lẽ cũng chừng đó hoặc kém.

    Trung châu là một hình tam giác, và là nơi cửa sông Ni-lơ mở rộng. Miền nầy đo được chừng 100 dặm từ Bắc tới Nam, và chừng 150 dặm từ Ðông tới Tây, tức là từ Port Said tới Alexandrie. Ðây là miền phì nhiêu nhứt nước Ai-cập, xứ Gô-sen, trung tâm cư trú chính của người Y-sơ-ra-ên, là phần phía Ðông của trung châu nầy.



  8. #8
    Ngày tham gia
    Apr 2008
    Số Bài Viết
    2,505
    Like
    364
    Thanked 492 Times in 278 Posts

    Mặc định Re: Các Nền Văn Minh Trên Thế Giới

    La Mã Cổ Đại

    La Mã cổ đại là một nền văn minh đã từng tồn tại ở châu Âu, Bắc Phi, và Trung Đông từ năm 753 trước C.N. và sụp đổ vào năm 476 sau C.N.. Trong nhiều thế kỉ, người La Mã kiểm soát toàn bộ Tây Âu và tất cả vùng lãnh thổ bao quanh biển Địa Trung Hải và một số vùng đất bao quanh Biển Đen


    Thời kì Quân chủ
    Thành phố Rome phát triển từ những khu định cư trên và xung quanh đồi Palatine, xấp xỉ mười tám dặm từ biển Tyrrhenia (một phần của biển Địa Trung Hải) trên dòng sông Tiber. Tại vị trí này sông Tiber có một hòn đảo mà ở đó có thể lội qua sông. Do dòng sông và chỗ cạn, Rome ở vị trí quyết định đối với giao thông và buôn bán. Trong truyền thuyết của người La Mã, Rome được xây dựng bởi Romulus vào ngày 21 tháng 4 năm 753 trước C.N. Romulus, người mà tên đã được coi là sinh ra tên của thành Rome, là người đầu tiên trong 7 vị vua của Rome mà người cuối cùng là Tarquin Kiêu hãnh bị phế truất vào năm 510 hay 509 trước C.N khi La Mã Cộng hoà được thiết lập. Những vị vua thần thoại hay bán thần thoại là (theo thứ tự thời gian): Romulus, Numa Pompilius (Vua hiền Numa), Tullus Hostilius, Ancus Marcius, Tarquinius Priscus, Servius Tullius, và Tarquinius Superbus (Tarquin Kiêu hãnh).
    Thời kì Cộng hoà
    La Mã Cộng hoà được thành lập vào năm 509 trước C.N, theo những tác giả về sau như Livy, khi nhà vua bị hạ bệ, và một hệ thống dựa trên những quanh chức hành chính địa phương được bầu ra hằng năm. Quan trọng nhất là hai quan chấp chính tối cao, những người cùng nhau áp dụng quyền hành pháp, nhưng phải đấu tranh với Hội đồng Nguyên lão cứ lớn lên về qui mô và quyền lực cùng với lực lượng của nền Cộng hoà. Các chức vị quan toà lúc đầu chỉ được giới hạn cho quí tộc nhưng sau này được mở rộng cho cả người bình dân. Người La Mã dần dần đánh bại những dân tộc khác trên bán đảo Italy, chủ yếu liên quan đến những bộ tộc Ý khác (thuộc dòng Ấn- Âu) như người Samnite và Sabine, nhưng cũng có cả người Entrusca. Mối đe doạ cuối cùng cho đế chế La Mã ở Italy đến khi Tarentum, một thuộc địa lớn của Hy Lạp, nhận được sự giúp đỡ của Pyrrhus thành Epirus vào năm 282 T.C.N. Trong nửa sau của thế kỉ thứ 3 trước C.N, Rome xung đột với Carthage trong 2 cuộc chiến tranh Punic, xâm chiếm Sicily và Iberia. Sau khi đánh bại Macedonia và người Seleucid vào thế kỉ thứ 2 T.C.N, người La Mã trở thành những người chủ không thể chối cãi của vùng Địa Trung Hải. Xung đột nội bộ giờ đây trở thành mối đe doạ lớn nhất đối với nền Cộng hoà. Hội đồng Nguyên lão, khư khư giữ lấy quyền lực cho mình, liên tục phản đối những cải cách đất đai quan trọng. Một hậu quả không lường trước được từ cải cách quân sự của Gaius Marius đó là quân lính thường có lòng trung thành với chỉ huy của họ nhiều hơn đối với thành phố, và một vị tướng hùng mạnh như Marius hay đối thủ của ông Lucius Cornelius Sulla, có đủ khả năng uy hiếp buộc thành phố và Hội đồng Nguyên lão phải nhượng bộ . Vào giữa thế kỉ thứ nhất trước Công nguyên ba người đàn ông, Julius Caesar, Gnaeus Pompeius Magnus, và Marcus Licinius Crassus, đã nắm quyền kiểm soát không chính thức của chính phủ cộng hoà thông qua một hiệp uớc bí mật được biết đến như là Chế độ Tam hùng đầu tiên. Caesar có thể hoà hợp với những đối thủ Pompey và Crassus, cả hai đều là những người cực giàu với quân đội riêng và sự nghiệp thượng nghị sĩ, và hành động vì lợi ích của cả hai người khi bầu chọn quan chấp chính tối cao, trước khi dùng cương vị thống đốc của mình như người cầm quyền của Gaul để tự mình có được danh tiếng quân sự. Sau cái chết của Crassus và sự sụp đổ của chế độ Tam hùng, một sự tách biệt giữa Caesar và Hội đồng Nguyên lão đã dẫn tới nội chiến, với Pompey dẫn đầu lực lượng của Hội đồng. Caesar chiến thắng và được phong làm nhà độc tài suốt đời sau khi từ chối tước hiệu quốc vương . Tuy nhiên, ông ta chiếm lấy quá nhiều quyền lực quá nhanh đối với một vài thượng nghị sĩ, và bị ám sát trong một âm mưu được tổ chức bởi Brutus và Cassius vào ngày 15 tháng 3 năm 44 T.C.N. Một chế độ Tam hùng thứ 2, bao gồm người thừa kế đã được chỉ định của Ceasar Octavian và những cựu trợ thần Mark Antony và Marcus Aemilius Lepidus, lên nắm quyền, nhưng những thành viên của nó nhanh chóng rơi vào một cuộc đấu tranh giành quyền thống trị. Trong nỗ lực cuối giành chính quyền Cộng hoà, Octavian đánh bại Antony tại trận chiến Actium vào năm 31 T.C.N và thôn tính những vùng lãnh thổ của Cleopatra, người vợ phương Đông( và ở Rome, bị khinh miệt) của Antony. Octavian giữ lại Ai Cập như là thuộc địa không chính thức của nhà vua, bảo đảm một thu nhập để lấy lòng những cư dân thủ đô. Giờ đây ông ta nắm lấy quyền lực gần như tuyệt đối với tư cách là thống soái quân sư, người bảo vệ duy nhất của quần chúng, và quyền lực tối cao trên lãnh thổ La Mã, và lấy tên Augustus. Những xác lập hiến pháp trên (đã biến Rome từ một nước cộng hoà thành một đế quốc. Người kế vị được chỉ định của Augustus, Tiberius, lên nắm quyền mà không có cuộc đổ máu nào (thậm chí còn không có nhiều sự kháng cự), và như vậy đã hoàn thành công trình của ông.

    Thời kì Đế quốc
    Trong thời kì Đế quốc, La Mã đối đầu những cuộc xâm lược của “người dã man” và những khó khăn khác. Để đối phó tốt hơn với nhiệm vụ giữ cả đế chế lại với nhau, hoàng đế bắt đầu chỉ định các tướng trấn giữ các vùng, làm xuất hiện các quyền lựa tập trung chia La Mã thành 2 phần Đông và Tây
    Sụp đổ
    Theo Edward Gibbon, Đế quốc La Mã đã không chống cự được cuộc xâm lược của người dã man do sự mất lòng tin đối với các cư dân. Họ đã trở nên lười biếng và uỷ mị, giao phó nghĩa vụ bảo vệ Đế chế của họ cho bọn lính đánh thuê người dã man. Vai trò của lực lượng quân đội người dã man trở nên dày đặc và ăn sâu đến nỗi họ có thể dễ dàng vượt mặt Đế chế. Những người La Mã, Gibbon nói, đã trở thành ẻo lả như phụ nữ và không muốn sống theo kiểu quân sự. Thêm vào đó, Gibbon cũng ám chỉ vai trò của Thiên chúa giáo trong sự sụp đổ của Rome. Thiên chúa giáo, ông nói, đã tạo ra niềm tin vào một thế giới khác và gợi ý rằng có một cuộc sống tốt đẹp hơn sau cái chết. Điều này cổ vũ sự thờ ơ giữa những công dân La Mã tin rằng họ sẽ có một cuộc sống tốt hơn sau khi họ chết, do đó huỷ hoại ý muốn của họ về việc duy trì và hi sinh vì Đế chế. Thêm nữa , sự nổi lên của Thiên chúa giáo cũng tạo ra một sự xác định tư hữu quan trọng hơn nhà nước, làm thu nhỏ hơn mong muốn đưa những nhu cầu của nhà nước lên trên của bản thân. Giải thích này được nhìn nhận với thái độ hoài nghi bởi đế chế chỉ bị tan rã ở phía Tây, trong khi ở phía Đông, Đế chế vẫn tiếp tục như là Đế quốc La Mã Phương Đông. Trong Đế quốc La Mã, từ “người dã man” chỉ bất cứ ai không phải là một công dân La Mã, và được áp dụng chủ yếu cho những bộ tộc Bắc Âu ngoài tầm ảnh hưởng của nền văn hoá Roma.



  9. #9
    Ngày tham gia
    Apr 2008
    Số Bài Viết
    2,505
    Like
    364
    Thanked 492 Times in 278 Posts

    Mặc định Re: Các Nền Văn Minh Trên Thế Giới

    Vì sao đế quốc La Mã bị tiêu diệt? (P1)


    Những phế tích của đế chế La Mã có thế này còn rải rác rất nhiều ở châu Âu.
    Dĩ nhiên đã có câu trả lời của các nhà sử học. Ở đây, trong một vị thế khác, các nhà xã hội học và nhân loại học muốn khảo sát vấn đề sụp đổ của đế quốc La Mã dưới góc độ "tính văn hóa" để nhìn thấy một đáp án khác thuộc về những chiều sâu nhân văn.

    Vào thời cổ đại, người La Mã thường thực hiện việc hôn nhân theo 4 hình thức. Một là cướp đoạt; hai là thể nghiệm; ba là cộng thực; và bốn là mua bán.

    Hình thức thứ nhất có tính cưỡng chiếm, xảy ra vào thời nguyên thủy. Khi nhân khẩu tăng trưởng, hình thức này được chuyển sang dạng thể nghiệm, tức là nam nữ sống chung một thời, sau đó mới xác định hôn nhân chính thức. Chỉ cần hai bên chung sống liên tục từ một năm trở lên, gia đình cô gái sẽ không còn quyền gia trưởng, và cô ta sẽ thuộc quyền của chồng và gia đình chồng. Thế nào là chung sống liên tục? Người La Mã quan niệm nếu rời bỏ người chồng trên danh nghĩa 3 ngày 3 đêm, coi như cô gái phải làm lại từ đầu.

    Thứ ba là hình thức hôn nhân cộng thực (cũng gọi là hôn nhân tôn giáo) được cử hành long trọng và theo những nghi thức phức tạp. Hôn lễ gồm 3 giai đoạn chính: tống thân (đưa dâu), nghinh thân (đón dâu) và cộng thực (thành thân). Thứ tư là hình thức hôn nhân mua bán. Hình thức này coi phụ nữ như một thương phẩm: Người đàn ông chỉ cần 5 người làm chứng và một người phụ trách chiếc cân là có thể mua được vợ. Trước những nhân chứng, chú rể một tay cầm một vật có giá trị xác định, một tay cầm khối đồng tuyên bố: "Theo luật pháp La Mã, vật này là sở hữu của tôi, tôi dùng đồng và chiếc cân để mua lấy". Sau khi đặt đồng lên cân, anh ta được gia trưởng trao quyền làm chủ người vợ. Đây là hình thức hôn nhân đơn giản được lưu hành rộng rãi nhất ở La Mã thời đó.

    Xã hội La Mã cổ đại tuyệt đối hóa quyền của người chồng. Chồng có thể bỏ vợ bất kỳ lúc nào. Trái lại, người vợ luôn phải trung thành. Nếu bắt quả tang vợ ngoại tình, chồng có quyền giết vợ tại chỗ. Thậm chí chỉ cần nghe dư luận đồn đại vợ mình lăng nhăng, người chồng đã có thể "xử lý".

    Đến năm 195 trước Công nguyên, phụ nữ La Mã vùng lên, lập thành đội ngũ vây kín Viện Nguyên lão, đòi quyền tự do. Từ lúc đó, không khí nghiêm khắc trong gia đình dần dần không còn nữa và dẫn đến sự phá sản nền đạo đức cũ. Thời này, mục đích chính của người đàn ông trong việc lập gia đình là để có của hồi môn. Vì thế chỉ cần người vợ không làm phiền mình, người chồng có thể cho cô ta tùy ý trong cách sống. Do đó đến khoảng thế kỷ thứ II trước CN, phụ nữ La Mã dần dà thoát khỏi sự ràng buộc của gia đình. Hiện tượng ngoại tình và đời sống tình dục của họ cũng phóng khoáng không thua đàn ông. Trước đấy người phụ nữ không có quyền ly hôn, nhưng bây giờ họ có thể ly hôn với bất kỳ lý do nào. Đến nỗi một nhà thơ đương thời đã mỉa mai:

    Trong 5 mùa đông
    Nàng thay đến 8 chồng
    Và tự hào muốn khắc kỳ công lên bia mộ!

    Sự lỏng lẻo của gia đình khiến các ông chồng cực kỳ bất mãn. Vì thế hoàng đế Augustus đã ban bố pháp lệnh: Nếu phát hiện vợ tư thông, người chồng phải ly hôn, nếu không sẽ bị nghiêm trị. Theo điều luật này, "dâm phụ" sẽ bị lưu đày đến một hòn đảo không có dấu chân người và không có quyền tái hôn. Còn "dâm phu" phải lưu đày đến một hòn đảo khác. Thậm chí đàn ông có vợ dan díu với kỹ nữ chưa đăng ký vẫn bị kết tội. Vì thế, số kỹ nữ đến đăng ký tăng vọt lên, đến nỗi nhiều danh môn quý phụ cũng xin đăng ký làm kỹ nữ!

    Khởi đầu sự phá sản

    Vào thời kỳ cuối của chế độ Cộng hòa, kịch viện và đấu trường phát triển rộng rãi ở La Mã khiến điều kiện gặp gỡ nam nữ dễ dàng hơn. Ở những sân khấu ngoài trời, trai gái có thể ngồi lẫn lộn để xem kịch hoặc đấu vật. Đây là điều kiện thuận lợi để tình yêu nảy nở tự do.

    Vào thời viễn cổ, người La Mã ít bàn về văn hóa do họ dồn hết tinh lực vào chiến tranh. Vì thế họ thích nói về kỷ luật, trách nhiệm, hơn là về tính văn hóa. Nhưng khi đại đế quốc La Mã kiến lập, người La Mã trở thành ông chủ của nhiều tài sản kếch xù và các nô lệ, cuộc sống xa hoa đã làm họ thay đổi. Ý thức về "tính" cũng biến dạng. Để thấy rõ sự chuyển hóa này, chúng ta có thể khảo sát sự sùng bái các vị thần của người La Mã. Đầu tiên họ sùng bái những hình tượng lạnh lùng, nghiêm túc, biểu trưng cho đạo đức trừu tượng có ý nghĩa bảo vệ người La Mã. Tiêu biểu nhất là nữ thần lửa bếp - người bảo vệ cho sự thịnh vượng quốc gia và sự bình yên của gia đình. Trong nhiều tác phẩm điêu khắc cổ La Mã, vị nữ thần này được tạo hình rất đoan trang, tư thế chính trực mặc dù hoàn toàn khỏa thân.

    Để thờ phụng vị nữ thần, người ta lựa chọn 6 trinh nữ từ những gia đình quyền quý. Từ lúc lên mười, 6 thiếu nữ trên được đưa vào đền để tuyệt đối hiến thân cho nghi thức thuần túy tôn giáo trong 30 năm. Đạo đức của những nữ tế nhân được coi là bảo chứng thiêng liêng về sự hưng vượng của quốc gia.



  10. #10
    Ngày tham gia
    Apr 2008
    Số Bài Viết
    2,505
    Like
    364
    Thanked 492 Times in 278 Posts

    Mặc định Re: Các Nền Văn Minh Trên Thế Giới

    Vì sao đế quốc La Mã bị tiêu diệt? (P2)

    Năm 216 trước Công nguyên, đại quân La Mã thất trận. Cho đây là điềm gở, xuất phát từ sự băng hoại đạo đức của 6 nữ tế nhân, người ta đã cho xử tử họ. Thế nhưng, sau khi đã chinh phục được những vùng đất rộng lớn, dân La Mã lại đột nhiên chuyển ra phóng túng và sùng bái tửu thần Hy Lạp.

    Khoảng đầu thế kỷ 2 sau Công Nguyên, người La Mã chuyển sang suy tôn thần Venus. Đây là vị thần đại diện cho tình yêu và tính dục. Vì thế cuộc sống tình dục của người La Mã đã trở nên cực kỳ phóng túng.

    Thời kỳ này, luật pháp La Mã rất trọng nam khinh nữ. Theo quy định, một cô gái muốn về nhà chồng phải có của hồi môn là 150 bảng vàng (khoảng 68 kg), và phải nộp cho nhà chồng trong hạn kỳ 3 năm. Chính vì thế, khi gả con gái út, triết gia Cicero (106 - 45 trước CN) phải tán gia bại sản, thậm chí phải trù tính kế hoạch ly hôn cho con gái để thu lại của hồi môn. Để tránh khỏi phí tổn quá lớn, nhiều người La Mã đã chọn cách giết chết con gái. Và chính luật pháp cũng quy định rằng cha mẹ phải dưỡng dục tất cả các con trai, nhưng trái lại, chỉ có trách nhiệm nuôi đứa con gái thứ nhất mà thôi. Điều này dẫn tới tình trạng trai thừa gái thiếu. Phụ nữ trở thành đối tượng săn lùng ráo riết của đàn ông. Vì thế, hiện tượng thiếu nữ thất trinh rất phổ biến trong xã hội.

    Sau khi La Mã chinh phục thế giới, sự tự do tình dục của phụ nữ cũng được nới rộng, nhất là đối với các quý phụ. Không gian giao tiếp khoáng đạt đã phá vỡ nền tảng đạo đức cũ. Người La Mã rất thực tế, họ coi tình ái là một hoạt động nhục thể, có liên quan mật thiết đến tiền bạc và không có ý nghĩa gì về tinh thần. Họ tuyệt đối không có kiểu tình yêu thuần túy tinh khiết của Plato. Xuất phát từ nhận thức bản chất nhục thể là công cụ của tính ái, và tính giao là hành vi tự nhiên giữa hai giới, các chàng trai và các cô gái La Mã đã thoải mái hẹn hò và thực hiện ân ái theo sự tự nguyện đôi bên. Bất kỳ ở đâu, trong phòng, ngoài đồng nội, nơi hành lang, tự miếu, đấu trường. Nói chung, người La Mã yêu nhau cực kỳ tự nhiên.

    Thời đó, các kỹ nữ trang điểm rất công phu, khêu gợi. Họ thường đứng đón khách làng chơi dưới những "Fornices" (lầu xanh), vì thế đã nảy sinh nguồn gốc của động từ fornicity (tính giao). Khi phân tích các di tích trên cổ thành Pompeii, các nhà nghiên cứu nhận định: "Trong số những chữ viết và vết khắc thô thiển nơi tường vách và cột trụ hành lang thành Pompeii, hai từ felicitas và felix, có nghĩa là vui sướng và khoái lạc, đập vào mắt nhiều nhất".

    Khoả thân là mốt của người La Mã cổ đại mà biểu hiện rõ nhất là nhà tắm công cộng. Với lý do tắm gội, họ thoải mái cởi bỏ trang phục trước mắt mọi người không chút e ngại. Thậm chí phụ nữ La Mã còn cho phép nam nô lệ thoa dầu, massage thân thể. Đôi khi họ cũng đồng ý cho những nô lệ của mình khỏa thân và tiến hành "tính giao". Không phải chỉ khỏa thân trong gia đình, nơi nhà tắm, người La Mã còn buôn bán nô lệ khỏa thân. Nói chính xác hơn, khi mua bán nô lệ nơi quảng trường, người La Mã cho họ thoát y toàn thân để tiện việc lựa chọn. Trong những thành thị lớn ở La Mã cổ đại, hầu như ngày nào cũng diễn ra cảnh mua bán như thế. Bất kể ở điều kiện thời tiết nào, người nô lệ da đen bị đem bày bán cũng hoàn toàn khoả thân. Họ đứng trên một "khán đài chuyển động" để người mua có thể dễ dàng quan sát, sờ mó, định giá, trả giá.

    Số nô lệ ở La Mã rất nhiều. Trong thành phố, cứ khoảng 3 cư dân lại có 1 nô lệ. Con số nô lệ còn cao hơn nhiều lần ở khu vực ngoại thành. Trong các gia đình La Mã, nam chủ nhân chiếm hữu nô lệ như công cụ lao động; nữ chủ nhân biến nam nô lệ thành công cụ hưởng lạc. Hình ảnh về sự phóng túng của tính dục lan tràn khắp xã hội. Trước khi kết hôn, hầu như cô gái nào cũng đã từng "tận hưởng" với nô lệ của mình.

    Đề phòng việc mang thai, phụ nữ quý tộc yêu cầu nô lệ phải chấp nhận một số hình thức thiến, hoặc thực hành các hình thức giao hoan mà không gây "hậu quả". Để giữ bí mật cho mình, phụ nữ La Mã còn bắt những nam nô lệ tình dục phải chịu cảnh bị chọc cho mù mắt.

    Tại La Mã cổ đại, thoát y vũ là thú tiêu khiển phổ biến. Cách thoát y của các cô gái La Mã rất nhẹ nhàng, đôi khi họ chỉ cần di chuyển ngược chiều, y phục sẽ tự động rơi xuống. Kịch trường La Mã cũng rất phóng khoáng, có thể diễn bất kỳ tác phẩm khêu gợi nào. Mô thức cố định của kịch là cảnh bắt quả tang cô gái khỏa thân. Bất kỳ nam hay nữ diễn viên đều có thể tùy hứng biểu diễn những động tác kích thích dục tính. Tuy vậy, trong lĩnh vực kịch nghệ, địa vị của nữ diễn viên vẫn rất thấp so với nam diễn viên, tương tự vị trí của kỹ nữ, gái bán bar ngoài xã hội.

    Ngoài việc phóng túng nơi kịch trường, người La Mã cổ đại còn có cách thể hiện tính dục nơi đấu trường. Ví dụ ở các võ trường giác đấu, khán giả có thể xem những tay tử tù biểu diễn cảnh thần Athis bị thiến đầy máu me, hay cảnh thần Mythi thoát y. Khi Cơ đốc giáo bị bức hại, nhiều nữ tín đồ đã bị ép đến đấu trường biểu diễn. Trước mắt 2 vạn khán giả, bọ bắt buộc phải thoát y để giác đấu với bò tót...



+ Reply to Thread
Trang 1 / 2 1 2 Cuối cùngCuối cùng

Similar Threads

  1. Trả lời: 1
    Có Bài Trả Lời Mới Nhất: 25-Aug-2009, 05:47 PM
  2. Trả lời: 0
    Có Bài Trả Lời Mới Nhất: 31-Jul-2009, 05:45 PM
  3. Thẻ nhớ MicroSD Wifi đầu tiên trên Thế giới từ KDDI
    By Dũng in forum Tin tức & sản phẩm công nghệ
    Trả lời: 0
    Có Bài Trả Lời Mới Nhất: 28-Jul-2009, 11:22 AM
  4. Cỏ mềm-Minh Nhật
    By lovealways in forum Truyện Ngắn
    Trả lời: 0
    Có Bài Trả Lời Mới Nhất: 05-May-2008, 12:07 AM

Quuyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts