Các đặc trưng vật lý

Hình dạng
Trái Đất có dạng gần giống như hình cầu dẹt, với đường kính khoảng 12.742 km. Độ lệch lớn nhất là các điểm cao nhất (đỉnh núi Everest, cao 8.850 m) và điểm thấp nhất (đáy vũng Mariana, ở độ sâu 10.911 m dưới mực nước biển). Do đó độ dẹt của Trái Đất là khoảng 1/584, hay 0,17 %. Khối lượng của Trái Đất khoảng 6,000 yottagam (6 x 1024 kg).


Cấu trúc

Cấu trúc Trái Đất. 1: Lõi rắn trong cùng; 2: Lõi lỏng; 3: Lớp phủ nhớt; 4: Lớp vỏ; 5: Lớp đất đá trên cùng; 6: Khí quyển Trái ĐấtTrái Đất gồm 3 lớp: Vỏ Trái Đất , lớp Manti, nhân. Phần bên trong của Trái Đất, giống như của các hành tinh có đất đá khác, về mặt hóa học được chia thành lớp vỏ ngoài rắn là các loại hợp chất silic, lớp phủ có độ nhớt cao, lớp lõi ngoài lỏng có độ nhớt thấp hơn lớp phủ, lớp lõi trong rắn. Lớp lõi ngoài lỏng tạo ra từ trường yếu vì sự đối lưu của các vật chất dẫn điện của lớp này.

Các vật chất mới thường xuyên tìm kiếm đường ra bề mặt thông qua các núi lửa và các vết đứt gẫy ở đáy đại dương (xem thuyết trôi dạt lục địa). Phần lớn lớp vỏ ngoài nhỏ hơn 100 triệu (1×108) năm tuổi; những phần già nhất của lớp vỏ ngoài vào khoảng 4,4 tỷ (4,4×109) năm tuổi [1].

Xét tổng thể, các thành phần của Trái Đất theo khối lượng là:

Nguyên tố Phần trăm
ôxy 32,4
sắt 28,2
silic 17,2
magiê 15,9
niken 1,6
canxi 1,6
nhôm 1,5
lưu huỳnh 0,70
natri 0,25
titan 0,071
kali 0,019
Khác 0,53


Phần bên trong
Phần bên trong của Trái Đất có nhiệt độ đạt tới 5.270 K. Nguồn nhiệt bên trong của hành tinh là được sinh ra trong quá trình lớn dần lên của nó (xem năng lượng liên kết trọng trường), và được bổ sung bởi năng lượng sinh ra của các phản ứng phân rã các nguyên tố phóng xạ như urani, thori, và kali. Nhiệt truyền từ phần bên trong ra bề mặt chỉ bằng khoảng 1/20.000 năng lượng nhận được từ Mặt Trời.

0 đến 60 km - quyển đá (tùy nơi, dao động từ 5-200 km)
0 đến 35 km - lớp vỏ (tùy nơi, dao động từ 5-70 km)
35 đến 2890 km - lớp phủ
100 đến 700 km - quyển suy nhược??
2890 đến 5100 km - Lớp lõi ngoài
5100 đến 6378 km - Lớp lõi trong (nhân)

Lớp vỏ địa lý
Gồm 2 thành phần là vỏ đại dương và vỏ lục địa. Vỏ đại dương từ 15 km. Vỏ lục địa 70km. Tầng trên cùng là tầng trầm tích, gồm những vật liệu nhẹ phân bố không đều, có nơi không có có nơi lại dày trên 15km. Dưới tầng lục địa là tầng đá Granit, gồm đá Granit và nhưng loại đá nhẹ tương tự đá Granit.

Sinh quyển


Trái Đất là nơi duy nhất đã biết có sự sống tồn tại. Các dạng sự sống trên hành tinh đôi khi được nói đến như là "sinh quyển". Sinh quyển Trái Đất nói chung được cho là bắt đầu tiến hóa cách đây khoảng 3,5 tỷ (3,5×109) năm. Sinh quyển được phân chia thành một số biom, bao gồm các hệ thực vật và hệ động vật tương đối giống nhau sinh sống. Trên đất liền, các biom phân chia chủ yếu theo vĩ độ. Các biom nằm trong các vòng Bắc Cực và vòng Nam Cực là tương đối hiếm về thực và động vật, trong khi phần lớn các biom phong phú chủng loại nhất nằm gần đường xích đạo.


Khí quyển


Trái Đất có lớp khí quyển tương đối dầy, chứa 78% nitơ, 21% ôxy, 1% agon, cộng với một ít các khí khác như điôxít cacbon và hơi nước. Khí quyển là lớp đệm giữa Trái Đất và Mặt Trời. Thành phần khí quyển Trái Đất không ổn định và được duy trì bởi sinh quyển. Một lượng lớn ôxy phân tử tự do được tạo ra bởi năng lượng Mặt Trời và thực vật trên Trái Đất. Ôxy tự do trong khí quyển là một dấu hiệu của sự sống.

Các lớp như tầng đối lưu, tầng bình lưu, tầng mêzô, tầng técmô và tầng exô, dao động theo từng khu vực và có tác động tới các thay đổi theo mùa.

Khối lượng tổng cộng của khí quyển khoảng 5,1 × 1018 kg, khoảng 0,9 ppm của tổng khối lượng Trái Đất.


Thủy quyển



Trái Đất là hành tinh duy nhất trong hệ Mặt Trời mà bề mặt có nước ở dạng lỏng. Nước bao phủ 71% bề mặt Trái Đất (97% là nước biển và 3% nước ngọt [4]) và chia thành 5 đại dương với 7 lục địa. Các hiện tượng quỹ đạo quanh Mặt Trời của Trái Đất, núi lửa, trường hấp dẫn, hiệu ứng nhà kính, từ trường và khí quyển giàu ôxy có lẽ đã hợp thành để tạo ra Trái Đất như là một hành tinh chứa nước.

Trái Đất thực sự là hành tinh nằm trên rìa ngoài của ranh giới quỹ đạo có đủ độ ấm để tạo ra nước ở dạng lỏng. Không có hiện tượng nhà kính, nước của Trái Đất có lẽ đã bị đóng băng hết. Các chứng cứ hóa thạch chỉ ra rằng tại thời điểm sau khi các vi khuẩn lục-lam (Xyanobacteria) đã chiếm hết các đại dương, hiệu ứng nhà kính đã bị mất, và các đại dương của Trái Đất có thể bị đóng băng hoàn toàn trong 10 đến 100 triệu năm trong cái gọi là sự kiện quả cầu tuyết Trái Đất.

Trên các hành tinh khác, như Kim Tinh, nước ở dạng hơi bị phân hủy bởi bức xạ tia cực tím của Mặt Trời, và hiđrô bị ion hóa và bay đi mất theo gió Mặt Trời. Hiệu ứng này tuy chậm nhưng không thể thay đổi được. Đây là một giả thuyết giải thích tại sao Kim Tinh không có nước. Không có hiđrô, ôxy tương tác với bề mặt và liên kết trong các khoáng chất rắn.

Trong khí quyển Trái Đất, một lớp mỏng ôzôn trong tầng bình lưu hấp thụ phần lớn năng lượng bức xạ cực tím, làm giảm hiệu ứng phân hủy. Ôzôn, chỉ có thể tạo ra trong khí quyển chứa một lượng lớn ôxy phân tử tự do và phụ thuộc vào sinh quyển (thực vật). Từ trường của Trái Đất cũng là lớp lá chắn bảo vệ cho tầng ion khỏi bị cuốn đi bởi gió Mặt Trời.

Cuối cùng, hiện tượng núi lửa liên tục tỏa ra hơi nước từ bên trong. Kiến tạo địa hình trên Trái Đất chu chuyển cacbon và nước như là đá vôi thành các chất trong lớp phủ và giải phóng theo núi lửa trong dạng như điôxít cacbon dạng khí và hơi nước nóng. Ước tính rằng các khoáng chất trong lớp phủ có thể chứa ít nhất là gấp 10 lần lượng nước của các đại dương hiện nay, mặc dù phần lớn nước bị chiếm giữ này sẽ không bao giờ được giải phóng.

Tổng khối lượng của thủy quyển khoảng 1,4 × 1021 kg, khoảng 0,023 % tổng khối lượng Trái Đất.